
廸 石 明 德 學 校
Trường Tư Thục Minh Đức Rạch Giá

談心 Tâm Tình

寫作與投稿 兼談旅居世界各國的 迪石鄉親
我喜愛文學,閱讀的比較多,寫的很少。記起四十多年前在越南迪石明德學校教書,毎當課餘有點時間,寫些散文,地方通訊什麼的寄到報館。說實在,迪石是個小市鎮,也沒有什麼消遣去處。空閒時讀報看書,寫幾篇短文並把時間消磨了!
至今經已超過四十載,記起每當我寫東西時,我內人見了,她常用一句越南「俗語」來說我: "hái nho sai mùa",意思是說在不對季節裡去採摘葡萄。說白了,是做些不合時宜的事。在我多次的追問原由時,她終於開口「 訓」 了我一番 。理由也蠻充足吧!她說 : 你是否注意到 現在的華校,教數理化及英文最「 吃香」 。而你那「無病呻吟」的文藝「創作」有啥用?我聽了滿肚子不是滋味.....但還是「擇善故執」的我行我素了!
上世紀的七十年代,南越變天,華人受到嚴重的衝擊,生意停頓,華校不復存在,迪石鄉親和全南越人民一道 盡用各種渠道,成千上萬的離開了美麗笫二故鄉迪石。旅居世界各國,開啟了在笫三故鄉奠基立業 並獲取輝煌的成就。
堅江同心 明德學校網站 海外鄉情一網牽
年多前應 堅江同心及明德學校網站負責同學的邀約,要我寫些東西,我多少有些顧慮,要寫嗎!不知從何寫起,儘管離開故土將近四十年,還有自己長年不用又忘了很多的中文,恐怕寫岀不成體統的拙作,給人笑話!但結果也寫了幾則有關自己故鄉,學校的小文。雖不盡人意,勉強聊表思鄉懐舊之情......。
四十多年後再提筆寫東西,內人還是她那句對我停用了四十多年的老話: “hái nho sai mùa”,但此次她稍有不同的解釋說: 現在是發逹的網絡年代,一些名家作品,詩詞,或者天下大事電腦鍵盤一按都浮現眼前,而你那「白水文章」我怕沒人去讀?
我說: 你錯了!我現在所寫的東西,我敢斷定有百分之九十九的人閱讀,那

百分之一不讀的是不懂中文,這話怎麼說?因為在堅江同心及明德網站上的讀者羣都是我們 迪石老鄉,老師,同學及相關的朋友 。而我所寫的,提到的皆是有關他們的母國,故鄉,學校及充滿桟戀的工作地方,換句話說,我所寫的是充滿紀念性的短文,有紀念性的文章給在紀念中的人閱讀,是多麼的幸福,何樂不為?再說 美國的哈佛你有待過嗎?中國的北大,清華你有讀過嗎?縦然這些名校擁有顕赫的,及學富五車的教授,學者,於你何干?印象何在 ?藉此篇幅我由衷的希望上述兩個網站,站在服務鄉親崗位上,百尺竿頭,更進一步。鼓勵喜好華文的鄉親們,朋友們,同學們百花齊放的在這塊充滿「鄉土氣息」的園地裡暢所欲言,當然是健康的,積極的內容。因為我們華文是美妙的,悠久的,永垂不朽的 ,全世界有五分之一的人讀 懂呢!

迪石鄉親 異域創下豐碩業績
迪石華人在南越政權易幟後成千上萬旅居世界各國,如果把笫二,三代計算在內,數目就大了,他們來到異國他鄉,生活,風俗習慣截然不同,很快適應了當地環境,克復了種種障礙,很快融入主流杜會,在各行各業有突飛猛進的發展。先說第一代吧,他們可說是赤手空拳,從零開始,他們在工,商業,技術方靣發展較多,雖然身處各國 ,際 遇有所不同,但成功率比比皆是 。在各自發展的領域具有卓著的表現。
還有第二代嗎,可說是出於藍勝於藍......他,她們在學術,專業方面有優秀的成就,他們是幸運的一代,受了良好的高等教育,並在各所正規,馳名的院校取得完整的學歷,成就於各令人羨慕的職位。雖然說,是靠他們自身的努力,自愛,但多少有第一代父兄的提攜,或給予的機會。現在的他們有的擠身上流社會 。這羣精英份子,有醫學界的,法律界的,藥製師,工商管理,技師,電腦,銀行家等,還有追隨自己父母親管理家族企業。這批人才,是所在國的棟樑,是華人之光 ,迪石人的驕傲 。
迪石人熱愛生活 爭千秋於居留國
迪石人是勤勞的,熱愛生活的,在各居留國與其他族羣和睦共處,奉公守則在各個領域打拚。記得幾十年前初臨乍到,雖受到主,客覌觀的限制,但是她們樂觀的,有創新的,敬業的,以堅毅魄力奮發圖強,不但獲得豐碩業績,還贏得不少口碑。他們有個共同的目標,是希望在這片新土地,與當地人一道應盡公民義務 ,建設新家園,提升生活質素,栽培後代,以爭千秋不爭一時的信念往前邁進 .....。
二零一六年, 六月,林奕明於澳洲墨爾本。

從一幀四十多年前的舊照片談起(拉雜談)。

得天獨厚,地靈人傑。是迪石擁有他省望麈莫及的優越條件。
麻雀雖小,五臟俱全。是迪石潮裔眾人在小環境拼搏岀大「格局」的例證。
說到迪石,就離不開該市的華人,他們經過幾代人辛勤工作,便把該市鋳造成繁榮昌盛,生氣蓬勃的華人埠。中華文化底蘊不減故國。
能把故國文化在他鄉大放異彩的迪石潮州人,通過各個組織機構,尤其是學校襯托岀那薪火相傳的傳統美德是可書的..........。
如果你來到迪石,在進入市中心的道路上,必經過及看到一幢巍峨壯觀的現代化建築物,座落於阮忠直大道75號(1975年前)。那便是潮裔族群共同奮鬥得來的結晶,也是中國人旅居他鄉保有自己固有文化遺產.........明德中學; 擁有一支來自各地的教師隊伍,及一千多位可愛的學生,在我記憶中,學生們循規蹈矩,尊師重道,勤力求學。這種表現,來於家庭父母,及華人社會好風氣有至關重要的影響。還有默默耕耘但求學生有好收穫的老師
們獻岀,每人緊守崗位,完成校方交付的任務。除了業務上互相切磋外,同事間是很融洽的,大家有說,有笑。儘管迪石市也沒有很多消遣去處,週末戲院偶爾有放映一,二部港,台電影,教師們能抽空觀看算是不錯了吧!聚餐,喝咖啡聊天也是蠻稱心的。我還清楚記得,走岀學校門囗,右轉二百米的一間 Xã Mai 咖啡店,明德老師們常是它的「座上客」。教師們有一籃球隊,但不勤練球,水準一般。夏令例假,老師們組成團隊到各處遊玩,迪石周邊的景點也是老師們常涉足的好地方,如: 富國島,河仙,椰子園,龜山,山愛岩,及叻港菠蘿園等..........上述的田園風光,皆是明德老師們在辛勤工作後遊山玩水雅緻生活的一部份.......,這裡我還須補充是明德老師集體岀去遊玩,多數由黃河老師策劃及帶隊。
多月前陳文壯同學從他蒐集的明德學校老師們一幀舊照片中,向我詢問老師們的姓名,及當年的拍攝場景。我還記得的及有印象的都給他提供了些訊息,有的也真的模糊不清了!
其中有一張舊照片是有我在其間的旅遊各個離島舊照片(因我沒有保留及忘記了有此照片)。我看了告訴他說,是去龜山(Hòn Rùa)又名(Hòn Tre)所拍攝,其實是到另一島嶼: 是山愛岩(Hòn Sơn Rái). 迪石西邊面向暹羅灣,在一片碧藍的大海屹立著無數的島嶼,最大是富國島,(現在正發展為國際旅遊區。富國島國際機場現已啟用,賭場,高級娛樂場所正在加建中。) 其它的如: 龜山,山愛岩,藝岩(Hòn Nghệ),地岩(Hòn Đất),南游島(Đảo Nam Du).......等無數大小不一的小島。有些経已開放為旅遊景點,並給漁民必需品補給及每在大海上捕撈,遇上「不測風雲」時有個安全的「避風港」。
山愛岩(Hòn Sơn Rái) 距離迪石市六十多公里,長著蔥翠樹木有原森林自然景色,當年(1972)據說只住著四百多人,靠捕魚,種植維生。我們二天一晚的在此島嶼遊玩,享用了很多海鮮,尤其是迪石海域最岀名的花蟹(con ghẹ),香甜,脆嫩加上「三即美味」(即捕,即煮,即吃)。如今想來真是「垂涎三尺」哩!該離島現住有四,五千人囗,水電皆有,又有環島公路 。更特別的這裡「山外有山」更往高處爬二百多公尺有座小山,當地人叫「摩天嶺」有間寺廟,住著幾位和尚,在此清靜, 「與世隔絕」的地方譖心修行,必定得道,修成正果.....。
提起上述長達四十多年前的黑白老照片,彌足珍貴,老師們,現旅居世界各國多數都已退休,並且過著雅逸的生活,我默默祝愿他,她們萬年長青,永遠幸福。我還記得當年到此島嶼遊玩的老師們,還有多位老師沒有在此幅相片裡面,至今末知還有其他老師保留著全體二十多人的集體照片嗎?如沈逸靜老師,陳炳華老師,申文老師,黃南照老師,陸維芝老師,劉娥影老師等。提到劉老師,我在此要多談一下,她在明德任教很久,我有幸跟她同事一或二個學期,她因自己生意繁忙,無暇兼顧,辭去教席,不過常有跟舊同亊聯絡或一同去遊玩....多年前我到訪美國洛杉磯時,她老人家盛意拳拳的請我們家庭吃了一頓飯。藉此機會,再次的向劉老師致上由衷的謝意。
順便記下另一個島嶼, 即龜山(Hòn Tre)又名(Hòn Rùa) ,離迪石四十公里西南邊。該島面積比山愛岩還大,從東面遠眺全島,十足像一隻烏龜,因此得名。
七零或七一年,我跟一批校外軍人朋友遊覧該島,也第一次大開眼界看到軍人捕捉海鮮的「捷徑」。他們把手榴彈從大船上扔到海裡,不足二分鐘,海面上一,二百公尺範圍內,魚,蝦,蟹等皆「奔騰跳躍」漂浮於水面,他們侭管用小舢舨打撈「獵物」,不到一個小時,先後扔了三顆手榴彈,捕獲約二,三十公斤的魚,蝦。足見「軍事行動」的「神速」吧!
堅江是美麗的,那裡有你,我太多可愛的故事.....至此我僅借用某位學者曾說的一句話: 「世界上最美好的地方是自己的故郷」來結束此篇短文。

二零一六年,元月,林奕明脫稿於澳洲墨爾本。

Lời dịch giả: Thiết nghĩ tôi cũng nên đưa những bài "Phản Thất Bộ Thi" với những tác giả Trung Quốc cận đại để cho thấy sự ảnh hưởng của bài thơ "Thất Bộ Thi" về sự dùng từ và nhân cách hoá "hạt đậu" và "nhánh đậu" để diễn tả tương tàn trong một tổ chức, hay trong một xã hội. Những bài sau đây được sưu tầm từ nhật báo "Tinh Đảo" (星島 ), ngày 13 tháng 12, 2007.
Trương Văn Tú 張聞秀
Những bài thơ sau đây cũng là “Phản Thất Bộ Thi”, tuy nhiên chữ “phản” đây không có nghĩa lật ngược nội dung bài của Tào Phi như Quách Mạt Nhược đã viết mà chỉ mượn chữ “hạt đậu” và “cành đậu” trong bài “Thất Bộ Thi” với một cung cách khác. Như bài của toán học gia Trung Quốc, Hoa La Canh.
贈諸弟 - 華羅庚
煮豆燃豆萁,
萁在釜下樂。
不惜身成灰,
願弟早成熟。
Dịch:
Chử đậu nhiên đậu ky
Ky tại phủ hạ lạc
Bất tích thân thành khôi
Nguyện đệ tảo thành thục
Tạm dịch:
Nấu đậu dùng cành đậu
Cành đậu dưới lò vui
Không tiếc thân thành tro
Mong đệ sớm thành thục
Bài “Thế Cành Đậu Kêu Oan” của Lỗ Tấn cũng là một điển hình trong cách dùng chữ “hạt đậu” và “cành đậu”. Ông Lỗ Tấn là một nhà cách mạng, và văn học Trung Quốc. “Thế Cành Đậu Kêu Oan” là một bài bút chiến giữa Khoa trưởng Triết học trường đại học Nữ Sư Phạm Bắc Kinh, ông Uông Mậu Tổ (汪懋祖) và ông Lỗ Tấn (魯迅), giáo sư trường nữ Sư Phạm Bắc Kinh. Ông Uông Mậu Tổ đứng về phía bảo thủ Khoa Trưởng trường nữ Sư Phạm Bắc Kinh, bà Dương Âm Du (楊蔭榆). Còn Lỗ Tấn đứng về phía các sinh viên tiên tiến của trường. Bài được viết vào 02 tháng 06, 1925.

替豆萁申冤 - 魯迅
煮豆燃豆萁,
萁在釜下泣:
我燼你熟了,
正好辦教席!
Tạm dịch:
Nấu đậu dùng cành đậu
Cành dưới lò thút thít
Tôi ra tro anh lại chín
Đúng là lúc lên làm khoa viện trưởng
Một bài khác cũng được viết nhưng lại mượn câu cuối của “Thất Bộ Thi”, "tương tiễn hà thái cấp", do ông Chu Ân Lai (sau là thủ tướng Trung Quốc) viết.
千古奇冤,
江南一葉。
同室操戈,
相煎何急。
Dịch:
Thiên cổ kỳ oan
Giang Nam nhất Diệp
Đồng thất thao cơ
Tương tiễn hà cấp
Tạm dịch:
Oan thay! Oan thay!
Giang nam Diệp Đình
Cùng trong một nhà
Sao động can cơ
Đốt chi cho gấp
Vào lúc thời kỳ chống ngoại xâm tháng 04, 1941, Quốc Dân đảng và Cộng sản đảng Trung quốc cùng đồng tâm hợp lực để chống quân phiệt Nhật Bản. Tình hình đấu tranh kháng chiến chống Nhật ở Quản Nam (皖南) thuộc tỉnh An Huy trở nên khốc liệt. Tướng tư lịnh ông Diệp Đình cùng phó tư lệnh Hạn Anh được lệnh mang quân từ Giang Nam đông tiến về nam bộ tỉnh An Huy, ngờ đâu bị Quốc Dân đảng thừa cơ phục kích, đâm sau lưng chiến sĩ, đảng Cộng sản tổn thất nặng nề. Chu Ân Lai ở Trùng Khánh được tin đau lòng nên viết bài thơ trên.
Thơ và những lời dịch giảng thuộc quyền sở hữu của tác giả, ngoại trừ các nguồn dẫn chứng khác.
Dịch giả: Trương Văn Tú 張聞秀
Lời dịch giả: "Thất Bộ Thi" phản ánh chính trị, tranh quyền đoạt vị trong triều đại phong kiến đến nổi anh em phải trở mặt, cốt nhục tương tàn chỉ vì "quyền lực và địa vị." Không những điều này xảy ra trong các triều đại phong kiến, mà ta còn thấy xảy ra đâu đây trong bất cứ gia đình, hay xã hội nào. Sự tranh giành tài sản của ông cha, dù không đủ để sống suốt kiếp nhưng cũng đủ làm anh em bất hoà, chém giết lẫn nhau, và đây cũng là một điều bất hạnh trong gia đình. Đôi khi tôi tự nghĩ có lẽ đây là bản tính của con người: ích kỉ, ganh tị, sân si dục vọng.... Mà khi bản tính hạ ngã này không kiềm chế được thì đạo đức, và lương tâm con người cũng sẽ hoán đi. Tựa bài thơ mang nhiều tính lịch sử giai thoại, còn nội dung mang nhiều tính giáo dục, và đạo đức con người.
Trương Văn Tú 張聞秀

七步詩 – 曹植
“原版”
煮豆持作羹,
漉豉以爲汁。
萁在釜下燃,
豆在釜中泣。
本是同根生,
相煎何太急?
七步詩 – 曹植
“幼兒版”
煮豆燃豆萁,
豆在釜中泣。
本是同根生,
相煎何太急?

“Thất Bộ Thi” gồm hai bản, “nguyên bản” và “ấu nhi bản.” Nguyên bản hay bản gốc là do Tào Thực. Ấu nhi bản là do một tác giả khác, không rõ nguồn, nhưng tựa đề và nội dung giống nhau. Có người cho là La Quán Trung trong khi viết truyện “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã sửa đổi bài nầy. Ấu nhi bản có phần ngắn hơn, lời văn cận đại, đơn giản, dễ nhớ, thích hợp cho các thiếu nhi, và trong tầng lớp thứ dân. Bởi lẽ đó, “ấu nhi bản” được làm thành nhạc phổ, được phổ biến trong các lớp học trẻ, và được quảng bá sâu rộng trong quần chúng. Bản “ấu nhi” do đó được nhiều người biết hơn so với bản gốc.
Dịch: (theo nguyên bản)
Chử đậu trì tác canh,
Lộc chi dĩ vi chấp.
Ky tại phủ hạ nhiên,
Đậu tại phủ trung khấp.
Bản thị đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp?


Tạm dịch: (theo nguyên bản)
Nấu đậu để làm canh,
Gạn vỏ còn lại nước.
Cành đậu dưới lò đun,
Đậu trong lò thúc thít.
Cùng là một gốc sinh,
Đốt chi sao lại gấp?
Bản dịch: Trương Văn Tú
Triển khai: (theo nguyên bản)
Canh kia từ đậu mà sinh
Lọc cho ra vỏ để làm nước canh
Đậu cành nhúm dưới nồi canh
Đậu trong nồi khóc, kêu cành đừng đun
Vốn là một gốc, một nguồn
Lửa chi cho gấp, để canh sụt sùi

A. Tóm Lược Tiểu Sử Tác Giả - Tào Thực:
Tào Thực (192-232) tự Tử Kiến, còn được gọi là Trần Tư Vương, người nước Ngụy, thời Tam Quốc (nay thuộc thị xã Hảo Châu, tỉnh An Huy) là con thứ ba của Tào Tháo. Tào Tháo gồm có 4 người con với Võ Tuyên Biện thị chánh thiếp (1), Tào Phi, Tào Chương, Tào Thực và Tào Hùng.
Tào Thực trí tuệ thông minh, “hạ bút thành chương” “xuất khẩu thành thi” là một thiên tài vào triều Ngụy. Vào lúc 10 tuổi đã thông thạo “Kinh Thi Luận Ngữ”, và thuộc lòng hơn 100 ngàn từ phú. Con trưởng Tào Tháo, là Tào Phi cũng là một thiên tài của làng văn học Trung Quốc. Tào Phi là người mở đầu sự phê bình luận văn học, như trong cuốn “Điển Luận – Luân Văn”, mở đầu kỷ nguyên nền bình phẩm văn học Trung Quốc. Cho đến ngày nay trong làng văn học Trung Quốc vẫn tôn danh Tào Tháo, Tào Phi, và Tào Thực là “Tam Tào”.
Sự thông minh quán chúng, lại văn võ song toàn của Tào Thực được lòng sủng ái của cha. Với bản chất đa nghi, tài nghệ của Tào Thực cũng đã đôi lần làm Tào Tháo nghi ngờ rằng thơ văn của Thực có lẽ là nhờ người viết hộ. Tài năng của Tào Thực trong cuộc tranh tài “Đăng Đài Vi Phú” do Tào Tháo tổ chức với bài “Đăng Đài Phú” đã làm giải tỏa sự nghi ngờ của cha. Lúc ấy Tào Thực được 19 tuổi.

Tào Tháo đã nhiều lần có ý phế trưởng lập thứ làm Thế Tử (tức Tào Thực) mặc dầu có sự can gián của quần thần. Theo như thời kỳ phong kiến sự “phế trưởng lập thứ” là điều tối kị trong triều đình, hay ở trong gia đình. Bởi lẽ, điều nầy rất dễ dàng gây sự biến loạn, và bè phái trong triều chính, và dễ dàng đưa đến nội biến trong một nước. Sự sủng ái của Tào Tháo đối với con thứ tạo nên tị hiềm của huynh trưởng Tào Phi. Và chính điều này làm cuộc đời của Tào Thực sau này “biến phúc thành họa.” Cái “phúc” là sự thương yêu của cha. Cái “họa” là ganh tị của trưởng huynh. Cuộc đời gian truân, khốn khổ Tào Thực bắt đầu sau khi Tào Phi đăng cơ nắm quyền lực.
Tuy rằng Tào Thực khí khái và trí tuệ lúc nào cũng hơn trưởng huynh nhưng sự sủng ái, và kỳ vọng của Tháo cũng dần phai nhạt bởi sự phóng túng, hoang đàng, lại vi phạm nhiều điều cấm kị và lỗi lầm trong quân kỷ cũng như luật pháp, chẳng hạn như say rượu trong lúc xuất quân, cởi ngựa vào thành cấm... Tào Tháo tuy rằng tính hay đa nghi, nhưng rất sáng suốt trong việc xử lý quần thần, nghiêm túc trong việc giáo huấn con cái, công tư rõ rệt, thưởng phạt phân minh, và đặt nặng người kế vị ông trong việc thống nhứt lãnh thổ sau này. Tào Tháo cũng có lần phê bình các con ông như sau:
Tào Phi tính người “đôn hậu, cung cẩn”. Tào Chương thì “hữu dũng, vô mưu”. Tào Thực thì “rượu chè, phóng đãng”. Tào Hùng thì “đa bịnh, mạng lại khó toàn”. Cuối cùng trưởng huynh Tào Phi nhiếp chánh sau khi Tào Tháo qua đời bởi căn bịnh đau não.
Tào Thực mất vào lúc 41 tuổi vì bịnh trầm uất và để lại hơn 80 thi ca, thi phú hoàn chỉnh. Sự cống hiến nhiều nhứt có thể kể là thơ “ngũ ngôn”. Thơ Tào Thực đầy tính diễm lệ, tình tứ mở đầu kỷ nguyên lối thơ diễm lệ, tạo ảnh hưởng lớn trong nền văn học Lục triều (2) sau này. Bài “Mỹ Nhân Thi” là một thí dụ điển hình.
Thơ của ông cũng được phân làm hai giai đoạn rõ rệt như cuộc đời của ông. Giai đoạn đầu, được sự sủng ái của cha, cùng cha ra sa trường chinh chiến. Thơ phản ảnh cuộc sống sung túc an dật, kiến công lập nghiệp, thỏa chí tang bồng của một thời trai tráng. Bài “Bạch Mã Thiên” là một thí dụ trong thời gian nầy.
白馬篇
.....
父母且不顧
何言子與妻
名編壯士籍
不得中顧私
捐軀赴國難
視死忽如歸
......
Tạm dịch:
.......
Phụ mẫu thả bất cố
Hà ngôn tử dữ thê
Danh thiên tráng sĩ tịch
Bất đắc trung cố tư
Quyên khu phó quốc nạn
Thị tử hốt như qui
.....

Triển khai:
.....
Phụ mẫu không nghĩ đến
Nói gì đến tử thê
Tráng sĩ mang danh đề
Bất đắc nghĩ chuyện tư
Quyên thân phò quốc nạn
Xem chết như trở về
.....
Bài thơ trên diễn tả sự nhiệt tình báo quốc, thỏa chí tang bồng hồ thỉ, đặt “trung” làm đầu; “hiếu, nghĩa” thứ chi. Xem chết tựa như lông hồng. Chí nam nhi đặt “quân, thân”, và công danh làm trọng, tất cả còn lại đều là thứ. Như Nguyễn Công Trứ trong bài “Phận Sự Làm Trai”:
.......
Có trung hiếu nên đứng trong trời đất
Không công danh thà nát với cỏ cây
.......
Giai đoạn sau của cuộc đời, thơ phản ảnh sự bất mãn, chí hướng không toại bởi sự chèn ép của cha con Tào Phi mặc dù Thực vẫn muốn đem tài mình và hoài bảo để cống hiến cho Ngụy nhưng không được như ý. Bài thơ “Thất Ai Thi” (Bảy Nổi Buồn Than) diễn tả nổi lòng của Tào Thực qua cung cách ẩn dụ của “tiện thiếp và lang quân”, hay “vợ chồng” nhưng thật sự là giữa “quân và thần”.
七哀詩
.....
愿為西南風
長逝入君懷
君懷良不開
賤妾當何依?
......
Dịch:
.....
Nguyện vi Tây Nam phong, (3)
Trường chiết nhập quân hoài
Quân hoài lương bất khai
Tiện thiếp đang hà y?
.....
Tạm dịch:
.......
Nguyện thành gió Tây Nam
Mãi mãi trong lòng chàng
Lòng chàng không mở rộng
Thân thiếp gửi nơi nao?
.....
Tương tự những bài thơ khác như “Mỹ Nhân Thi”, “Dã Điền Hoàng Tước Hành”, … đều diễn tả sự thất chí và hoài bảo và thất sủng trong triều đình.
Cũng nên nói thêm, trong thời kỳ phong kiến, sự chỉ trích, chê bai nhà vua là tối kị, có thể đưa đến tội chém đầu vì tội khi quân, hay phản loạn. Vì vậy văn chương, hay thi phú thường mang nhiều ngụ ý hơn là trực diện, mượn vật nầy hay người nọ để mà gửi thác tâm tư để tránh họa sát thân. Bài “Bạch Mã Thiên” là một thí dụ trong thời gian nầy.
B. Thất Bộ Thi - Bối Cảnh & Giảng Dịch:
“Thất Bộ Thi” là một bài thơ thuộc thể ngũ ngôn. Bài thơ đơn giản dễ hiểu, từ ngữ chất phác mộc mạc, lại mang nhiều ý nghĩ cho đời sống thường nhật. Nội dung bài thơ cho thấy sự tranh chấp quyền lực trong anh em, đưa đến sự cốt nhục tương tàn.
Sau khi Tào Tháo mất, con trưởng Tào Phi, tự Tử Hằng, chính thức kế vị, xưng là Ngụy Văn Đế. Sự nghi kị, tị hiềm của ông chẳng riêng gì với Tào Thực, mà cùng các em khác như, Tào Chương, và Tào Hùng. Tất cả đều được phong hầu nhưng lần lượt bị đưa đi những miền hoang dã và phải chịu sự giám sát của triều đình. Không được lai vãng tới thành Lạc Dương khi chưa được lịnh. Vây cánh của Tào Trực cũng dần dà bị tiêu diệt. Rõ ràng đây chẳng qua là một án tù lỏng không hơn không kém đối với Tào Trực.
Có một lần, Ngụy Văn Đế Tào Phi viện cớ Tào Thực trễ nải trong việc ma chay của phụ hoàng nên gửi đặc sứ tìm Tào Thực vấn tội. Vào lúc Tào Thực đang rượu chè hưng phấn, Thực nổi giận cho người đánh sứ thần, rồi đuổi về. Hành động này biểu lộ sự ngạo mạn và khinh miệt đối với một tân vương và cũng là dịp cho Tào Phi gán cho Thực tội khi quân, ra lệnh chém đầu.
Mẹ Tào Phi nghe được vội mời Tào Phi vào cung để xin mạng cho con. Lời mẹ khó cãi. Trong lúc Tào Phi phân vân không biết xử lí em mình thế nào cho thỏa đáng, và làm sao nhổ bỏ cái gai trước mắt thì Đại tư đồ (4) Hoa Hâm (華歆) bày mưu. Mưu rằng nghe thiên hạ đồn Tào Thực văn hoa lỗi lạc, có thể xuất khẩu thành chương. Nếu điều này không thật thì đây là một sự lừa dối đối với phụ vương và hoàng huynh. Tội khi quân lại mang thêm một lần nữa thì e rằng có mười cái mạng vẫn không giữ được.
Tào Phi đắc ý khen hay, bèn cho người giữ ngục mang Thực ra và ra đề thơ cho Thực. Rằng chúng ta là huynh đệ, thì cứ làm thơ về “huynh đệ” tuy nhiên trong thơ không được mang một chữ gì về “huynh đệ” “anh em cốt nhục”, thơ phải đúng vần đúng luật và thời gian chỉ được giới hạn trong vòng bảy bước đi. Bài thơ trứ danh này từ đó được người đời gọi là “Thất Bộ Thi”.
Tên bài thơ chỉ phản ánh một tình huống lịch sử còn nội dung thì mang một hình ảnh tranh quyền đoạt vị đến nổi dẫn đến cốt nhục tương tàn, “nồi da xáo thịt.” Sau có người lại cho tên bài thơ là “Cứu Mạng Thi” vì bài thơ nầy đã cứu mạng của Tào Thực.
Chỉ trong vòng bảy bước Tào Thực hoàn tất bài thơ hoàn hảo. Tội cho Tào Thực miệng thì cứ ngâm, mà nước mắt cứ chảy đầm đìa. Cứ mỗi lời ngâm đều mang đầy khóc hận, kêu gọi tình thâm, quả làm rung động lòng người. Tào Thực đúng là một thiên tài văn học có một không hai, “tài cao bát đấu” (5) trong thiên hạ.
Hai câu đầu của bài thơ dẫn ý về nồi canh. Mà nước canh nầy từ nước đậu mà ra.
煮豆持作羹,
漉豉以爲汁。
Dịch:
Chử đậu trì tác canh,
Lộc chi dĩ vi chấp.
Triển khai:
Canh kia từ đậu mà sinh
Lọc cho ra vỏ để làm nước canh
Tác giả đem nồi canh để làm đề tài, và diễn tả qúa trình nấu nồi canh đậu. Trước phải nấu đậu rồi gạn vỏ đậu ra để chỉ còn nước đậu. Quá trình nấu đậu giống như cách làm sữa đậu nành ngày nay.
Hai câu tiếp:
萁在釜下燃,
豆在釜中泣。
Dịch:
Kỳ tại phủ hạ nhiên,
Đậu tại phủ trung khấp.
Triển khai:
Đậu cành nhúm dưới nồi canh
Đậu trong nồi khóc, kêu cành đừng đun
Hai câu kế diễn tả quá trình trong lúc nấu đậu. “Kỳ tại phủ hạ nhiên”, “kỳ” có nghĩa là cành, hay nhánh đậu . “Khấp” có nghĩa là khóc thúc thít, không lớn; tiếng khóc mang nhiều oan ức.
Lửa thì được dùng cành, và nhánh đậu mà đun. Đậu thì ở trong nồi, nước thì sôi sùng sục. Tiếng nước sôi giống như tiếng kêu gào, than khóc của đậu. “Đậu” đây chỉ tác giả, còn “cành đậu” chỉ về hoàng huynh, Tào Phi. Tác giả nhân cách hóa hạt đậu, dùng tiếng “khóc thúc thít” thay vì dùng tiếng “nước sôi” trong lò, quả là một tuyệt kỷ, lại làm cho lòng người rung động. Lương tâm con người đang say ngủ ắt cũng phải bừng tỉnh bởi những lời kêu gọi thống thiết này.
Hai câu cuối của tác giả là một sự chọc thẳng vào lương tâm con người, là tiếng kêu gọi đạo đức con người, “nhân, nghĩa.”:
本是同根生,
相煎何太急?
Dịch:
Bản thị đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp?
Triển khai:
Vốn là một gốc, một nguồn
Lửa chi cho gấp, để canh sụt sùi
Đã là anh em cùng cha cùng mẹ thì tại sao phải tương tàn. “Máu chảy ruột còn mềm” huống chi là cốt nhục tình thâm. “Tương tiễn hà thái cấp”, “tiễn” đây có nghĩa là “nấu” hay “nướng.” Trong tục ngữ Việt Nam chúng ta cũng có câu:
Anh em như thể tay chân
Hay ca dao:
Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau
Nhắc đến ngụ ngôn về “gà” thì tôi lại nhớ câu “gà ghét tiếng gáy” thì rõ là Tào Phi ghét tiếng gáy hay của Tào Thực.
Câu đánh thức nầy quả có hiệu nghiệm và đã làm cho Tào Phi hổ thẹn vì tấm lòng nhỏ nhen của mình. Tuy nhiên, sự đánh thức chỉ ở một khoảnh khắc để giữ được tính mạng của Tào Thực. Còn Tào Phi vẫn tiếp tục lo sợ, nghi kị, và đẩy người em nầy ra vùng hoang vu dưới sự giám sát của sứ thần. Cho đến con Tào Phi, Tào Duệ (Ngụy Minh Đế) sau lên làm vua cũng vậy. Đúng là vận kiếp của một kẻ tài hoa.
“Thất Bộ Thi” được ca ngợi các triều đại sau này. Và là một điều giáo huấn không thể thiếu sót trong gia đình. “Thất Bộ Thi” nay trở thành thành ngữ trong văn chương Trung Quốc, ý chỉ một người có tài về văn thơ. Cũng như chúng ta thường hay nói là “xuất khẩu thành thi” vậy.
Để kết luận, thiết nghĩ cũng nên đề cập đến bài “Phản Thất Bộ Thi” của Quách Mạt Nhược (6), vì bài thơ này là phản đề của “Thất Bộ Thi”. Ông Quách Mạt Nhược là một nhà văn hào, kịch gia, tư tưởng cận đại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
反七步詩 - 郭沫若
煮豆燃豆萁,
豆熟萁已灰。
熟者席上珍,
灰作田中肥。
不為同根生
君懷良不開,
緣何甘自毀?
Dịch:
Chử đậu nhiên đậu ky
Đậu thục ky dĩ khôi
Thục giả tịch thượng trân
Khôi tác điền trung phì
Bất vi đồng căn sinh
Duyên hà cam tự hủy?
Tạm dịch:
Nấu đậu dùng cành đậu
Đậu chín cành ra tro
Đậu chín trên bàn tiệc
Tro ở ruộng làm phân
Không cùng là một gốc
Duyên chi phải tự hủy?
Bài thơ nói đến sự hy sinh của cành đậu, để đậu được chín. Nay lại chễm chệ trên bàn tiệc, mọi người thưởng thức, trong khi cành nay hoá ra tro nay phải hẩm hiu ra ruộng làm phân bón. Ngụ ý sự cam lòng hy sinh của Tào Phi (cành đậu) để mong em (đậu trong nồi) sớm trưởng thành để trở thành người hữu dụng. Nhưng, theo tôi nghĩ thì bài thơ “Phản Thất Bộ Thi” chỉ mang tính ngụy biện hơn là tính lịch sử. Nó không phản ánh sự tranh giành quyền lực trong các triều đại phong kiến và không làm rung động lòng người.
C. Chú Thích:
(1) Đúng ra Đinh thị là nguyên phối chánh thất phu nhân. Nhưng sau vì cái chết của Tào Ngang (曹昂), con Lưu thị . Đinh thị giận không trở về tuy rằng Tào Tháo có ý nhiều lần rước về nhưng không toại . Do đó Biện thị trở thành chánh thất sau này.
(2) Lục Triều: Ý chỉ các nước ở miền Nam Trung Quốc gồm có: Đông Ngô (229-280), Đông Tấn (317-420), và Nam Triều: Tống (420-479), Tề (479-502), Lương (502-557) và Trần (557-589). Giai đoạn Lục Triều nằm giữa đời nhà Hán và nhà Đường.
(3) Tây Nam phong: Gió nồm vào mùa hè.
(4) Đại Tư đồ: Thừa Tướng hay Thượng Thư, đến đời nhà Hán đổi lại là Tư Đồ.
(5) Tài cao bát đấu: Thành ngữ. Ý chỉ một người tài hoa lỗi lạc. Lời từ một nhà “sơn thủy” thi gia Tạ Linh Vận, đời Nam triều Tống quốc, Tống Văn Đế (xem chú thích Lục Triều (2)). Ông nói: “Thiên hạ tài hoa chỉ có 1 đán (thạch) (1 đán = 10 đấu), Tào Tử Kiến một mình lấy hết “bát đấu”, một đấu là tôi, còn một đấu kia thì thiên hạ cùng chia nhau.” Hách thật!
Theo từ điển VN thì chữ “thạch” thay vì chữ “đán” nhưng tôi dùng nơi đây, thí dụ: một thạch gạo. Nhưng theo tôi nghĩ đây có thể là sự sai lầm vì chữ Hán 石 có hai âm, “thạch” và “đán”, như chữ Nguyên Đán. Chữ “thạch” có nghĩa là “đá” trong khi “đán” là đơn vị đo dung tích thời xưa.
(6) Quách Mạt Nhược (1892-1978): Người huyện Lạc Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Tên thật Khai Trinh, tự Đỉnh Đường, hiệu Thượng Võ, bút danh Mạt Nhược (từ hai dòng sông Mạt, và Nhược, nơi sinh trưởng.)
Thơ, dịch giảng thuộc quyền sở hửu tác giả ngoại trừ sự dẫn chứng từ nguồn khác đã được chú thích.
Dịch giả: Trương Văn Tú 張聞秀

越南 迪石 明德中學教師 河仙遊記
一九七三年,在一個春暖花開,風和日麗的周末明德中學教師一行十多人,由黃河老師和韓迅華老師率領,浩浩蕩蕩的向旅遊目的地--河仙出發。
距離迪石市九十多公里偏北的一個邊陲市鎮 河仙,跟柬埔寨的貢不省毗鄰。越南作曲家曾創作一首膾炙人口的越文舒情歌曲: Hà Tiên 淋漓盡致描劊了河仙迷人的風土人情。該市鎮的成立,變遷留下我們中國人漂洋過海,堅毅卓絕,艱苦創業不可磨滅的烙印。歷史記載三百多年前中國明朝遺臣鄚玖(Mạc Cửu),和鄭成功相似,不甘臣服於滿清外族統治,率領眾人來到此地紥根,墾荒拓地,發展為商貿港口,並得到當時的真臘國(柬埔寨王國)的倚重,委任河仙市鎮督管重責。接著真臘國皇朝宮庭內亂,國勢衰弱,無暇兼顧河仙。鄚玖及鄚天賜父子只好投靠越國 阮主。
仰慕先僑披荊斬棘,百折不撓的無畏精神,及被如詩似畫的秀麗風光所吸引,我們教師們一行騎著機動車在崎嶇的道路跋涉前往。當年處於戰爭年代,公路受到嚴重破壞,客車已禁運。從迪石來往河仙的乘客及貨物以輪船駁運,頗費時間,金錢。二個小時的行程,我們機動車隊到達距離河仙市二十多公里的建良縣,


此地擁有一間南越最大的士敏厰,年產量以千百萬噸計,給當時的南越政權帶來一筆可觀的財政收入。我們稍為休息,喝過咖啡,繼續向目的地推進。十點多抵達河仙鎮,爭取時間,我們先參觀鄚玖陵,誠如前面所述; 鄚玖不僅把河仙開拓,發展為區域重鎮,港口。商務來往遍布東南亞及歐洲各國。越國阮主封他為河仙鎮總管兵大將軍,逝世後建起一座佔地甚寬的陵墓。我們瞻仰了粛穆,莊重的將軍陵寢並給這位具有「謀略天才」的「先僑」上香致敬。之後我們前往有德學校拜會林正克校長,得到林校長及夫人熱情接待,並以河仙特產鮮蠔,用潮州人所嗜好的一道菜:「蠔烙」招待我們一頓豐盛午餐。大快朵頤後,我們分秒必爭的參觀美奈 Mũi Nai,石洞 Thạch Động,蘇州山 Núi Tô Châu,父子岩 Hòn Phụ Tử (現僅存子岩,父岩已消沉海底) 等........仙境般的景點。